TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU ĐỊA BÀN SINGAPORE 4 THÁNG ĐẦU NĂM 2025

286047

Thương vụ Việt Nam tại Singapore dẫn nguồn số liệu thống kê của Cơ quan Quản lý doanh nghiệp Singapore cho biết, tháng 4 năm 2025, tổng kim ngạch ngoại thương của Singapore với thế giới đạt 124,73 tỷ SGD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: Xuất khẩu đạt 68,1 tỷ SGD, tăng 22,1%, Nhập khẩu đạt 56,58 tỷ SGD, tăng 7%. Giá trị xuất khẩu sản phẩm nội địa đạt 24,25 tỷ SGD, tăng 0,8%, giá trị tạm nhập tái xuất (trung chuyển) đạt 43,90 tỷ SGD, tăng 38,2%.

Bảng 1: Xuất nhập khẩu của Singapore với thế giới tháng 4/2025

TT Kim ngạch Tháng 4/2024 (nghìn SGD) Tháng 4/2025 (nghìn SGD) Tăng giảm
1 Tổng kim ngạch 108.724.423 124.732.827 14,7%
2 Xuất khẩu 55.823.465 68.150.262 22,1%
Xuất khẩu nội địa 24.062.856 24.248.578 0,8%
Tạm nhập tái xuất 31.760.609 43.901.684 38,2%
3 Nhập khẩu 52.900.958 56.582.565 7,0%

 

Trong 4 tháng đầu năm 2025, tổng kim ngạch ngoại thương của Singapore với thế giới đạt 451,46 tỷ SGD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: Xuất khẩu đạt 239,96 tỷ SGD, tăng 8,3%; Nhập khẩu đạt 211,50 tỷ SGD, tăng 6,6%. Giá trị xuất khẩu sản phẩm nội địa đạt 95,28 tỷ SGD, giảm 1,2%, giá trị tạm nhập tái xuất (trung chuyển) đạt 144,67 tỷ SGD, tăng 15,5%.

Bảng 2: Xuất nhập khẩu của Singapore với thế giới 4 tháng đầu năm 2025

TT Kim ngạch 4 tháng đầu năm 2024 (nghìn SGD) 4 tháng đầu năm 2025 (nghìn SGD) Tăng giảm
1 Tổng kim ngạch 420.163.533 451.459.176 7,4%
2 Xuất khẩu 221.667.554 239.957.178 8,3%
Xuất khẩu nội địa 96.453.489 95.282.866 -1,2%
Tạm nhập tái xuất 125.214.064 144.674.312 15,5%
3 Nhập khẩu 198.495.979 211.501.998 6,6%

 

Trong 4 tháng đầu năm 2025, trao đổi thương mại của Singapore với 15 đối tác chính đa số duy trì tăng trưởng dương.

Trong đó, về giá trị trao đổi thì Đài Loan tiếp tục tạm thời giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Singapore với kim ngạch trao đổi song phương đạt 55,6 tỷ SGD, tăng 54,7% so với cùng kỳ năm 2024. Top 5 đối tác thương mại lớn nhất của Singapore còn có Trung Quốc (trao đổi song phương đạt 49,9 tỷ SGD, giảm 11,7%), Malaysia (48,7 tỷ SGD, tăng 7,6%), Hoa Kỳ (14,8%), và Hồng Công (27,9 tỷ SGD, tăng 6,6%).

Bảng 3: Xuất nhập khẩu của Singapore với 15 đối tác chính 4 tháng đầu năm 2025

TT Tên đối tác Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng kim ngạch
Giá trị (tỷ SGD) Tăng giảm Giá trị (tỷ SGD) Tăng giảm Giá trị (tỷ SGD) Tăng giảm
Thế giới 240,0 8,3% 211,5 6,6% 451,5 7,4%
1 Đài Loan 21,5 130,6% 34,2 28,2% 55,6 54,7%
2 Trung Quốc 24,1 -24,6% 25,7 5,2% 49,9 -11,7%
3 Malaysia 24,4 6,0% 24,3 9,4% 48,7 7,6%
4 Hoa Kỳ 23,2 30,8% 23,6 2,5% 46,8 14,8%
5 Hồng Công 25,9 3,7% 2,0 69,3% 27,9 6,6%
6 Indonesia 19,4 6,3% 8,0 23,7% 27,4 10,9%
7 Hàn Quốc 10,4 8,4% 14,2 5,9% 24,6 7,0%
8 Nhật Bản 7,8 6,8% 10,7 18,1% 18,5 13,1%
9 Thái Lan 9,5 -10,4% 4,6 -5,8% 14,1 -9,0%
10 Việt Nam 9,4 23,9% 3,7 40,5% 13,1 28,2%
11 Ấn Độ 7,5 21,5% 4,0 5,2% 11,5 15,3%
12 Australia 6,5 2,9% 2,4 -36,7% 8,8 -11,8%
13 UAE 2,4 1,4% 5,7 6,3% 8,1 4,8%
14 Anh 2,3 40,2% 5,2 32,0% 7,5 34,5%
15 Đức 3,3 1,9% 4,1 -2,9% 7,3 -0,8%

 

Sau 4 tháng đầu năm 2025, Việt Nam tạm thời giữ vị trí đối tác thương mại thứ 10 của Singapore với kim ngạch trao đổi song phương đạt tổng cộng 13,1 tỷ SGD, tăng 28,2% so với cùng kỳ 2024, trong đó: Xuất khẩu tới Việt Nam đạt 9,4 tỷ SGD, tăng 23,9%; Nhập khẩu từ Việt Nam đạt 3,7 tỷ SGD, tăng 40,5%.

Trong thương mại với Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2025, Singapore đang là nước xuất siêu với giá trị xuất siêu sang Việt Nam theo ghi nhận của phía bạn đạt 5,7 tỷ SGD, tăng 15,3% so với cùng kỳ 2024.

Riêng trong tháng 4 năm 2025, tổng kim ngạch ngoại thương của Singapore với Việt Nam đạt 3,2 tỷ SGD, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: Xuất khẩu của Singapore tới Việt Nam đạt 2,4 tỷ SGD, tăng 25,3%, Nhập khẩu từ Việt Nam đạt 1,1 tỷ SGD, tăng 43%. Trong xuất khẩu hàng hóa của Singapore, giá trị xuất khẩu sản phẩm nội địa đến Việt Nam đạt 764,3 triệu SGD, tăng 19,5%, giá trị tạm nhập tái xuất (trung chuyển) sang Việt Nam đạt 1,4 tỷ SGD, tăng 28,8%.

Bảng 4: Xuất nhập khẩu của Singapore với Việt Nam tháng 4/2025

TT Kim ngạch Tháng 4/2024 (nghìn SGD) Tháng 4/2025 (nghìn SGD) Tăng giảm
1 Tổng kim ngạch 2.483.080 3.247.979 30,8%
2 Xuất khẩu tới Việt Nam 1.710.260 2.143.090 25,3%
Xuất khẩu nội địa 639.501 764.361 19,5%
Tạm nhập tái xuất 1.070.759 1.378.730 28,8%
3 Nhập khẩu từ Việt Nam 772.820 1.104.889 43,0%

 

Lũy kế 4 tháng đầu năm, trong xuất khẩu hàng hóa của Singapore, giá trị xuất khẩu sản phẩm nội địa đến Việt Nam đạt 2,78 tỷ SGD, tăng 18,2%, giá trị tạm nhập tái xuất (trung chuyển) sang Việt Nam đạt 6,6 tỷ SGD, tăng 26,5%.

Bảng 5: Xuất nhập khẩu của Singapore với Việt Nam 4 tháng đầu năm 2025

TT Kim ngạch 4 tháng đầu năm 2024 (nghìn SGD) 4 tháng đầu năm 2025 (nghìn SGD) Tăng giảm
1 Tổng kim ngạch 10.193.608 13.063.966 28,2%
2 Xuất khẩu 7.587.988 9.403.345 23,9%
Xuất khẩu nội địa 2.353.080 2.782.098 18,2%
Tạm nhập tái xuất 5.234.909 6.621.247 26,5%
3 Nhập khẩu 2.605.620 3.660.621 40,5%

 

Nếu chỉ tính theo xuất xứ hàng hóa, 4 tháng đầu năm Việt Nam xuất siêu sang Singapore đạt 878,5 triệu SGD.

Các nhóm hàng xuất khẩu chính của Singapore tới Việt Nam:

Về xuất khẩu, số liệu thống kê của Cơ quan Quản lý doanh nghiệp Singapore cho thấy, trong 04 tháng đầu năm 2025, hai nhóm hàng là Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) và Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) tiếp tục là hai nhóm hàng hóa xuất khẩu thứ 1 và 2 của Singapore tới Việt Nam.

Tổng giá trị xuất khẩu của hai nhóm này đạt 6,5 tỷ SGD, chiếm đến gần 70% tổng giá trị xuất khẩu của Singapore sang Việt Nam trong 04 tháng đầu năm 2025. Hai nhóm này hiện cũng đang chứng kiến mức tăng trưởng khá, cụ thể là: nhóm Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) có giá trị xuất khẩu tới Việt Nam đạt 4,8 tỷ SGD, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm 2024; còn nhóm Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) đạt 1,7 tỷ SGD, tăng 29,8%.

Tuy cùng chiếm tỷ trọng cao nhưng bản chất xuất khẩu của Singapore đối với hai nhóm này tới Việt Nam có sự khác biệt khá rõ rệt. Nếu như nhóm Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) có tỷ lệ tạm nhập tái xuất từ nước thứ ba đến 97,9% thì nhóm Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) lại chủ yếu được sản xuất trong nước tại Singapore với tỷ lệ của giá trị nội địa trong xuất khẩu sang Việt Nam chiếm đến 99,4%.

Ngoài hai nhóm nêu trên, trong Top 15 các nhóm hàng xuất khẩu chính của Singapore tới Việt Nam trong 04 tháng đầu năm 2025, có một số nhóm hàng khác đáng chú ý với giá trị xuất khẩu khá hoặc tăng trưởng ấn tượng như nhóm: Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí và bộ phận (HS 84), đạt 652,2 triệu SGD, tăng 62,8%; Nhựa và sản phẩm từ nhựa (HS 39), đạt 386,5 triệu SGD, tăng 15,6%; và Dược phẩm (HS 30), đạt 95 triệu SGD, tăng 115,6%.

Bảng 6: Xuất khẩu của Singapore tới Việt Nam 4 tháng đầu năm 2025

TT Tên nhóm hàng hóa Xuất khẩu nội địa Tạm nhập tái xuất Xuất khẩu (chung)
Giá trị (nghìn SGD) Tăng giảm Giá trị (nghìn SGD) Tăng giảm Giá trị (nghìn SGD) Tăng giảm
Tất cả các nhóm 2.782.098 18,2% 6.621.247 26,5% 9.403.345 23,9%
1 Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) 99.316 13,2% 4.683.344 26,2% 4.782.660 25,9%
2 Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) 1.702.862 30,4% 9.430 -24,5% 1.712.292 29,8%
3 Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí và bộ phận (HS 84) 63.077 4,2% 589.152 73,3% 652.229 62,8%
4 Nhựa và sản phẩm từ nhựa (HS 39) 147.404 13,4% 239.081 17,0% 386.485 15,6%
5 Tinh dầu, nước hoa, mỹ phẩm hoặc chế phẩm vệ sinh (HS 33) 176.108 -3,3% 30.583 -18,0% 206.691 -5,8%
6 Dụng cụ và thiết bị quang học/nhiếp ảnh/điện ảnh/đo lường chính xác/kiểm tra y tế hoặc phẫu thuật và bộ phận/phụ kiện (HS 90) 26.676 31,9% 147.057 21,2% 173.733 22,7%
7 Các chế phẩm ăn được khác (HS 21) 142.852 5,2% 7.611 69,7% 150.463 7,3%
8 Hóa chất hữu cơ (HS 29) 90.326 -9,8% 29.620 -14,2% 119.946 -11,0%
9 Các sản phẩm hóa chất khác (HS 38) 65.273 -9,5% 33.326 20,6% 98.599 -1,2%
10 Thuốc lá và nguyên liệu thay thế lá thuốc lá đã chế biến (HS 24) 95.776 1,9% 95.776 -3,8%
11 Đồ uống, rượu và giấm (HS 22) 4.934 115,9% 90.193 -4,9% 95.127 -2,1%
12 Dược phẩm (HS 30) 3.908 -22,4% 91.143 133,4% 95.051 115,6%
13 Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý, kim loại quý, kim loại được dát phủ kim loại quý và sản phẩm; đồ trang sức làm bằng chất liệu khác; tiền kim loại (HS 71) 18.200 334,2% 69.954 -26,0% 88.154 -10,7%
14 Bưu phẩm và giao dịch đặc biệt (HS 98) 59.815 -19,0% 1.816 -46,0% 61.631 -20,2%
15 Đồng hồ thời gian, đồng hồ cá nhân và các bộ phận của chúng (HS 91) 248 1,2% 56.915 8,0% 57.163 7,9%

 

Các nhóm hàng nhập khẩu chính của Singapore từ Việt Nam:

Về xuất khẩu, số liệu thống kê của Cơ quan Quản lý doanh nghiệp Singapore cho thấy, trong 04 tháng đầu năm 2025, nhóm Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) cũng tiếp tục là nhóm hàng hóa có giá trị nhập khẩu cao nhất mà Singapore nhập khẩu từ Việt Nam, đạt 1,8 tỷ SGD, tăng 78,5% so với cùng kỳ năm 2024 và chiếm đến 48,6% tổng giá trị nhập khẩu của Singapore từ Việt Nam.

Đứng thứ 2 và 3 về giá trị nhập khẩu của Singapore từ Việt Nam lần lượt là các nhóm: Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí và bộ phận (HS 84), đạt 871,4 triệu SGD, tăng 102,3%; và Thủy tinh và sản phẩm bằng thủy tinh (HS 70), đạt 292.012 triệu SGD, tăng 31,2%.

Ngoài ra, các nhóm còn lại trong Top 15 nhóm hàng nhập khẩu chính của Singapore từ Việt Nam hầu hết đều ghi nhận tăng trưởng âm so với cùng kỳ 2024, duy chỉ có ba nhóm ghi nhận tăng trưởng dương là: Dụng cụ và thiết bị quang học/nhiếp ảnh/điện ảnh/đo lường chính xác/kiểm tra y tế hoặc phẫu thuật và bộ phận/phụ kiện (HS 90), đạt 39,3 triệu SGD, tăng 86,3%; Cá và động vật giáp xác/thân mềm/thủy sinh không xương sống khác (HS 03), đạt 39 triệu SGD, tăng 14,8%; và Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý, kim loại quý, kim loại được dát phủ kim loại quý và sản phẩm; đồ trang sức làm bằng chất liệu khác; tiền kim loại (HS 71), đạt 22,5 triệu SGD, tăng 238,3%.

Bảng 7: Nhập khẩu của Singapore từ Việt Nam 4 tháng đầu năm 2025

TT Tên nhóm hàng hóa Giá trị (nghìn SGD) Tăng giảm
Tất cả các nhóm 3.660.621 40,5%
1 Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) 1.777.356 78,5%
2 Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí và bộ phận (HS 84) 871.447 102,3%
3 Thủy tinh và sản phẩm bằng thủy tinh (HS 70) 292.012 31,2%
4 Giày, dép, ghệt, sản phẩm tương tự và bộ phận (HS 64) 71.461 -6,8%
5 Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) 46.235 -77,3%
6 Ngũ cốc (HS 10) 39.974 -21,5%
7 Muối; lưu huỳnh; đất và đá; thạch cao, vôi và xi măng (HS 25) 39.733 -50,2%
8 Dụng cụ và thiết bị quang học/nhiếp ảnh/điện ảnh/đo lường chính xác/kiểm tra y tế hoặc phẫu thuật và bộ phận/phụ kiện (HS 90) 39.342 86,3%
9 Cá và động vật giáp xác/thân mềm/thủy sinh không xương sống khác (HS 03) 39.050 14,8%
10 Quần áo và hàng may mặc phụ trợ, dệt kim hoặc móc (HS 61) 33.945 -30,6%
11 Sắt, thép (HS 72) 33.845 -64,8%
12 Chất béo và dầu có nguồn gốc từ động/thực vật và sản phẩm; chất béo ăn được đã chế biến; sáp động/thực vật (HS 15) 33.256 -28,4%
13 Quần áo và các hàng may mặc phụ trợ, không dệt kim hoặc móc (HS 62) 26.602 -27,5%
14 Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý, kim loại quý, kim loại được dát phủ kim loại quý và sản phẩm; đồ trang sức làm bằng chất liệu khác; tiền kim loại (HS 71) 22.550 238,3%
15 Sản phẩm từ da thuộc; yên cương và bộ yên cương; túi xách và đồ chứa tương tự; sản phẩm làm từ ruột động vật (trừ ruột tằm) (HS 42) 19.963 -20,5%

 

Theo ông Cao Xuân Thắng, Tham tán thương mại tại Singapore, tình hình ngoại thương nói chung của Singapore với thế giới riêng trong tháng 4/2025 tiếp tục ghi nhận được đà tăng trưởng tích cực với tất cả các chỉ tiêu (tổng kim ngạch, xuất khẩu, nhập khẩu) đều tăng trưởng dương.

Tương tự như vậy, tình hình thương mại song phương của Singapore với Việt Nam riêng trong tháng 4/2025 cũng tiếp tục giữ đà tăng trưởng tích cực. Trong 4 tháng đầu năm, Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ 10 của Singapore.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương Singapore (MTI) ngày 22/5/2025, Mỹ và một số nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế đối ứng của Mỹ đang trong quá trình đàm phán, trong đó Anh và Trung Quốc đã đang đạt được một số thỏa thuận cụ thể. Đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ đã đồng ý giảm áp thuế lên nhau trong 90 ngày trong khi đang thực hiện đàm phán. Các bước tiến triển này của các nền kinh tế lớn đã làm giảm căng thẳng thương mại toàn cầu, do đó MTI đánh giá rằng bối cảnh nhu cầu thị trường bên ngoài của Singapore những tháng cuối năm đã khá hơn so với tháng 4.

MTI nhận định GDP của Mỹ có vẻ tốt hơn một chút so với tháng 4, mặc dù tăng trưởng vẫn có khả năng chậm cho nửa cuối năm 205 do chính sách thuế kéo theo lạm phát và bất ổn trong tiêu dùng và tăng trưởng đầu tư.

Trong khi đó, GDP của cộng đồng chung Châu Âu có thể giảm nhẹ, mặc dù lạm phát có giảm và chính sách điều tiết tiền tệ có nới lỏng nhưng các hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn yếu.

Tại khu vực Châu Á, GDP của Trung Quốc tăng trưởng tốt hơn so với tháng 4 do các gói chính sách hỗ trợ và tạm dừng áp thuế cao giữa Mỹ và Trung Quốc.

GDP của các nền kinh tế khu vực Đông Nam Á được hỗ trợ bởi tăng trưởng thị trường nội địa, mặc dù dự đoán tăng trưởng kinh tế sẽ bị giảm do chính sách thuế của Mỹ, nhưng có vẻ như các quốc gia này đều tăng trưởng xuất khẩu tốt.

Mặc dù có tăng trưởng dương trong vài tuần gần đây, nhưng nền kinh tế toàn cầu vẫn còn đối mặt với nhiều dấu hiệu bất ổn. Thứ nhất, sự gia tăng bất ổn của nền kinh tế kéo theo tâm lý “chờ xem”, không quyết định trong tiêu dùng. Thứ hai, các hành động leo thang đánh thuế, bao gồm cả đánh thuế trả đũa, có thể sẽ làm theo thang chiến tranh thương mại toàn cầu, kéo theo gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, tăng giá thành sản phẩm và làm giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Thứ ba, sự phá vỡ quá trình giảm phát toàn cầu và rủi ro suy thoái ở các nền kinh tế phát triển và các thị trường mới nổi sẽ kéo theo sự bất ổn các dòng tài chính có thể gây tổn thương cho hệ thống tài chính và ngân hàng.

Trong bối cảnh thế giới nêu trên, nền kinh tế hướng ngoại của Singapore bị đánh giá sẽ tăng trưởng yếu cả năm. Đặc biệt là các chính sách thuế của Mỹ sẽ tác động tiêu cực đến khối sản xuất, chủ yếu là xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, các khu cụm kỹ thuật vận tải vẫn duy trì tín hiệu tốt, đặc biệt là các dịch vụ bảo dưỡng máy bay, sữa chữa và đại tu, đây là các dịch vụ giá trị gia tăng cao của Singapore.

Trong khi đó, tăng trưởng của khối tài chính và bảo hiểm có dấu hiệu giảm do giảm các hoạt động thương mại, giảm các hoạt động kinh doanh và tiêu dùng. Đồng thời, việc giảm sản xuất công nghiệp và giảm kinh doanh của các doanh nghiệp dịch vụ cũng kéo theo giảm các chi tiêu có liên quan như các hoạt động marketing và dịch vụ IT, do đó kéo theo giảm tăng trưởng của khối dịch vụ công nghệ thông tin và các dịch vụ chuyên ngành.

Cuối cùng, tăng trưởng khối dịch vụ ăn uống và bán lẻ cũng không sáng sủa hơn do xu hướng giảm chi tiêu du lịch và sức tiêu thụ nội địa yếu.

Tổng hợp đánh giá chung, MTI tiếp tục duy trì dự báo tăng trưởng của Singapore cả năm 2025 sẽ vẫn ở mức dự báo từ “0.0 đến 2.0%”. Đây là khoảng dự báo khá rộng, cho thấy Singapore rất quan ngại tính bất ổn của nền kinh tế toàn cầu trong năm 2025.

Để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam tốt hơn, Thương vụ sẽ tiếp tục cập nhật tình hình, cơ chế, chính sách của địa bàn; hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam kết nối giao thương, trưng bày hàng hóa, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm, tăng sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam tại địa bàn; hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Singapore; hỗ trợ các đoàn công tác từ Singapore vào Việt Nam tìm kiếm nguồn hàng, xúc tiến đầu tư công nghiệp, thương mại và dịch vụ vào Việt Nam; hỗ trợ các đoàn công tác từ Việt Nam sang Singapore thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, v.v.

./.

Nếu cần trao đổi thêm, xin liên hệ Thương vụ Việt Nam tại Singapore theo địa chỉ [email protected]